Bệnh vảy nến là gì? Thông tin mới nhất về bệnh

Theo thống kê của chuyên khoa Da liễu Đại học Y Hà Nội, nước ta có khoảng 1,5% dân số mắc bệnh vảy nến. Hiện tại, tỉ lệ này vẫn không ngừng tăng lên, khiến cho nhiều người cảm thấy hoang mang, lo lắng, nhất là tình trạng vảy nên xuất hiện nhiều trên da ở các vị trí khác nhau của cơ thể. Đa số các bệnh nhân mắc bệnh vảy nến thường xuất hiện các triệu chứng da đỏ, bong, tróc vảy thành từng phiến mỏng, gây ngứa ngáy, khó chịu. Vậy bệnh vảy nến là gì? Dưới đây là những thông tin mới nhất về căn bệnh vảy nến, bạn đọc có thể tham khảo.

Bệnh nhân mắc bệnh vảy nến

Bệnh vảy nến là gì?

Vảy nến là căn bệnh da liễu, gây tổn thương ở bề mặt da, khiến cho làn da trở nên sần sùi, ửng đỏ, gây ngứa ngáy, rất khó chịu. Nếu không được tiến hành điều trị kịp thời, bệnh vảy nến sẽ nhanh chóng lan rộng ra những vùng da xung quanh, gây thẩm mỹ, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và sinh hoạt của bệnh nhân.

1 – Nguyên nhân chính gây ra bệnh vảy nến

– Rối loạn hệ miễn dịch:  Thông thường, các tế bào bạch cầu loại T sẽ theo sự tuần hoàn của máu di chuyển khắp cơ thể để tiêu diệt các vi sinh khuẩn và các hóa chất gây bệnh. Tuy nhiên, với căn bệnh vảy nến, bạch cầu T thay vì tấn công các yếu tố xâm nhập vào cơ thể  như vi khuẩn, virus,… thì lại tấn công nhầm vào các biểu bì da, khiến biểu bì tăng sinh rất nhanh trong vài ngày. Do không kịp bong tróc, các tế bào này xếp thành từng lớp vảy trên da, dẫn đến bệnh vảy nến.

Bệnh vẩy nến do yếu tố di truyền

– Yếu tố di truyền: Theo nghiên cứu, với những gia đình có cha mẹ mắc bệnh vảy nến thì nguy cơ con cái mắc phải căn bệnh này sẽ rất cao. Nếu chỉ cha hoặc mẹ bị bệnh thì con cái có tỉ lệ mắc khoảng 8,1 %. Tuy nhiên, nếu cả cha và mẹ cùng mắc thì con cái có nguy cơ mắc tới 41%. 

– Tiếp xúc với ánh nắng mặt trời và môi trường ô nhiễm:  Ánh sáng mặt trời chứa rất nhiều tia tử ngoại, gây tổn thương cho da. Chính vì thế, khi đi ra ngoài các bạn nên có các biện pháp bảo vệ da tránh khỏi tác động của tia cực tím. Bên cạnh đó, môi trường nhiều bụi bẩn, ô nhiễm không khí, nguồn nước,… cũng rất dễ khiến da bị tổn thương, lâu ngày gây ra một số căn bệnh da liễu khác như: ngứa da, viêm da,…

Tiếp xúc với ánh nắng mặt trời gây bệnh vảy nến

– Yếu tố tâm lý: Thực tế, nhiều người căng thẳng, lo âu sẽ nhanh chóng khiến cho hệ miễn dịch suy yếu dần. Từ đó, nguy cơ mắc các bệnh tự miễn như vảy nến, ngứa da,… là rất dễ xảy ra. Khi bị bệnh, bệnh nhân thường có tâm lý tự ti, xấu hổ. Điều này sẽ càng khiến cho làn da trở nên sần sùi, xấu xí hơn.

– Sử dụng thuốc không đúng cách: Nhiều người có thói quen dùng thuốc theo kinh nghiệm mà không tham khảo ý kiến của các bác sĩ chuyên khoa. Khi dùng thuốc không đúng cách, nhất là các loại thuốc như: thuốc chống sốt rét, thuốc trị điều trị cao huyết áp loại beta blocker, corticoid,… có thể khiến cho bệnh nhân phải gánh chịu một số hậu quả tiêu biểu như bệnh vảy nến.

Chế độ ăn uống không khoa học gây bệnh vảy nến

– Chế độ ăn uống không hợp lý: Chế độ ăn uống là một trong những yếu tố tưởng chừng như vô hại, ít tác động tới làn da. Tuy nhiên, với chế độ ăn uống thiếu khoa học, ăn ít rau xanh, củ quả sẽ khiến làn da khô, sần sùi. Ngoài ra, những thực phẩm cay nóng và các chất kích thích sẽ gây kích ứng làn da, khiến cho sức đề kháng của da bị giảm sút trầm trọng. 

2 – Các triệu chứng của bệnh vảy nến

Nếu như quan sát trên da thấy xuất hiện các dấu hiệu dưới đây thì tuyệt đối bạn không nên chủ quan bởi khả năng mắc nhiễm bệnh vảy nến là rất cao. Mỗi người có thể có triệu chứng sớm khác nhau nhưng tốt nhất bạn nên cảnh giác với những biểu hiện cấp và mãn tính dưới đây.

– Triệu chứng giai đoạn cấp tính:

  • Bệnh vảy nến có thể xuất hiện ở bất kì vùng da nào như: da đầu, khuỷu tay, lưng, ngực, mặt, tay, chân,… có khi là toàn thân.

Da bị sưng đỏ, nóng rát, nhất là tại vùng da bị tổn thương

  • Da bị sưng đỏ, nóng rát, nhất là tại vùng da bị tổn thương. Vùng da tổn thương ban đầu có thể chỉ là 1 vùng nhỏ và sau đó nhanh chóng lan rộng toàn thân tùy từng dạng vảy nến. Tại vùng da bị bệnh vảy nến hơi ngứa, da bị khô, sừng và bị tróc vảy trắng phân rõ ranh giới với vùng da thường.

– Triệu chứng giai đoạn mãn tính:

  • Khi mắc bệnh vảy nến ở giai đoạn mãn tính, các tế bào thoái hóa chết nhanh khiến cho các tế bào da chết cũng nhanh chóng xếp chồng lên nhau tạo thành các lớp vảy trắng dày. Khi cạo lớp vảy trắng bên ngoài, làn da hơi bị phớt hồng, sần sùi, kèm theo chảy máu.

làn da hơi bị phớt hồng, sần sùi, kèm theo chảy máu.

  • Ở dạng mãn tính, da có thể bị nhiễm trùng gây mủ, sưng, đau nhức. Nặng hơn, làn da của người bệnh có thể bị rớm máu tại các vùng tổn thương, gây đau nhức nghiêm trọng.

 – Các triệu chứng bệnh vảy nến phân biệt theo các thể:

+ Vảy nến thể mảng: Hầu hết những người bệnh bị vảy nến thể mảng sẽ gặp phải triệu chứng như: da rát, đỏ sau đó bị phủ một lớp vảy bạc. Vị trí xuất hiện thường da toàn thân, vùng đầu, ngay cả bộ phận sinh dục hoặc mô mềm trong miệng cũng có thể phát bệnh.

Các triệu chứng bệnh vảy nến phân biệt theo các thể

+ Vảy nến thể da đầu: Đa số bệnh nhân bị vảy nến loại này đều bị đỏ ở da đầu. Đồng thời, da đầu có vảy trắng gần giống gàu, ngứa và cạo ra mô trắng bạc xuất hiện thường xuyên. Sau khi gội đầu, các dấu hiệu trên cũng không có dấu hiệu mất đi. Da đầu trở nên dày hơn và xù xì, rất khó chịu.  

+ Vảy nến thể móng: Móng tay và móng chân bị tổn thương, chuyển màu trắng hoặc ngả vàng ngà, móng yếu dễ gãy, mục nát, tấn công toàn bộ nền móng gây rát, đau rát tại các móng.

Bệnh vảy nến gây tổn thương nghiêm trọng bề mặt da

+ Vảy nến thể mủ: Ban đầu, da sẽ bị sưng đỏ, sau đó hình thành các mụn mủ nhỏ kích thức vài mm tới 1-2 cm tùy vào vùng tổn thương. Các mụn mủ sẽ nhanh chóng khô lại tạo thành vảy vàng, chúng cứ tái phát nhiều lần liên tục nhiều lần. Thể này thường xuất hiện khắp toàn thân, rất ít khi xuất hiện trên một vùng cố định.

+ Vảy nến thể viêm khớp: Là một dạng tổn thương nặng không chỉ ở ngoài da mà cả khớp xương cũng bị viêm nhiễm đau nhức. Thể này thường do các dạng vảy nến dạng nặng tấn công, gây viêm nhiễm tác động tới khớp xương bên trong. Làn da tróc vảy trắng, viêm loét ngoài da chảy máu, ngứa và có thể nhiễm trùng da. Đồng thời, khớp bị đau nhức khớp chủ yếu là đầu gối, khuỷu tay, mắt cá chân,…

Bệnh vảy nến gây ra các mảng trắng

– Vảy nến thể Guttate: Thể này xuất hiện chủ yếu ở những người trẻ tuổi, do vi khuẩn viêm họng gây nên rất hiếm gặp. Thể Guttate gây lở loét ở các vùng da như tay, chân, đầu, lưng, ngực bụng,… Các vết loét nhanh chóng được phủ bởi một lớp mô không dày, dễ bị bắt nắng và cháy da. 

Bệnh vảy nến không thể điều trị dứt điểm

Cho đến thời điểm này, các loại thuốc điều trị bệnh vảy nến chỉ có tác dụng duy trì ổn định để bệnh không gây ra biến chứng và giảm bớt sự khó chịu cho người bệnh. Việc điều trị bệnh vảy nến là cả một thách thức, bởi tất cả các loại thuốc trị bệnh chỉ có tác dụng chống viêm và ức chế phân bào tế bào thượng bì da, làm gián đoạn sự tăng sinh quá nhanh của tế bào biểu bì, giảm viêm da. Tùy vào từng trường hợp của bệnh nhân, các bác sĩ sẽ chỉ định cho người bệnh sử dụng thuốc luân chuyển hoặc đơn độc. Khi dùng thuốc điều trị bệnh vảy nến, người bệnh cần phải phối hợp với liệu pháp tâm lý.

bệnh vảy nến không thể trị dứt điểm

Hiện tại, để điều trị bệnh vảy nến, bác sĩ sẽ chia ra 2 giai đoạn:

  • Điều trị tấn công: Làm sạch tổn thương, giảm sự khó chịu do bệnh gây nên, hạn chế tác dụng phụ của thuốc.
  • Giai đoạn duy trì: Duy trì sự làm sạch tổn thương bằng sự kết hợp hiệu quả của các loại thuốc trị vảy nến, sự tuân thủ của người bệnh và kinh nghiệm điều trị của bác sĩ.

1 – Các thuốc chữa bệnh vảy nến tại chỗ

Hầu hết người bệnh sẽ sử dụng thuốc bôi để điều trị bệnh vảy nến, bao gồm:

  • Thuốc bạt sừng bong vảy: thuốc mỡ salicylic 2-10% hoặc mỡ BenzoSaly bôi vào vùng da bị tổn thương có nhiều vảy.
  • Khi vảy bong bớt đi, người bệnh có thể bôi các chế phẩm chứa steroid như Flucinar, Synalar, Temprosone, Fucicort, Diprosalic,… Đây  đều là các loại thuốc đặc trị vảy nến thường được các bác sĩ chuyên khoa chỉ định. 

Thuốc bôi điều trị bệnh vảy nến

Ngoài ra, bác sĩ còn chỉ định cho người bệnh sử dụng các loại thuốc có tác dụng ức chế chuyển hóa miễn dịch như:

  • Thuốc Donovex thuộc nhóm Vitamin D tổng hợp có tác dụng làm giảm viêm và ngăn sự tăng sinh tế bào da.
  • Thuốc mỡ Methotrexate 0,5-1%: Có tác dụng ức chế sản sinh tế bào thượng bì đặc biệt là tế bào sừng. Tuy nhiên, thuốc có thể gây đau đỏ , sưng nhẹ, gây viêm da dị ứng.
  • Thuốc mỡ 5-Fluouracil 5%: Giúp ức chế tăng sinh tế bào thượng bì, nhưng thuốc nhược điểm là có thể gây phản ứng viêm tại chỗ.
  • Thuốc Glucocorticoid: Có tác dụng chống viêm khiến bệnh đỡ nhanh nhưng thuốc có thể gây teo da, rạn da, mụn trứng cá, viêm nang lông, nhờn thuốc.
  • Vitamin D và dẫn xuất: Các chế phẩm vitamin D3-Calcipotrio được bào chế dưới dạng mỡ, crem và dung dịch cho da, có tác dụng ức chế tăng sinh biểu bì, chống viêm, điều hòa miễn dịch tại chỗ.  Tuy nhiên, thuốc có thể gây tăng canxi máu nếu bôi lớn hơn 30% diện tích da
  • Thuốc chữa vảy nếnAnthralin: Áp dụng đối với những mảng tổn thương trên da đầu.
  • Calcipotriol dung dịch và gel tazarotene: Cải thiện những tổn thương tại móng, tránh tình trạng viêm loét móng.

2 – Thuốc trị vảy nến toàn thân

Với những bệnh nhân mắc bệnh vảy nến ở mức độ nặng, người bệnh sẽ sử dụng thuốc đặc trị vảy nến toàn thân. Sau đây là một số loại thuốc được áp dụng điều trị bệnh vẩy nến toàn thân như:

  • Ampicilline hoặc Rovamycin: Người bệnh có thể dùng thêm thuốc chống ngứa, chống dị ứng như Phenecgan hoặc Chlorpheniramine lúc đi ngủ.
  • Retinoid và các dẫn xuất: Thuốc này giúp điều biến miễn dịch, chống thâm nhiễm tế bào viêm biểu bì, điều trị vẩy nến mụn mủ toàn thân, đỏ nhưng thuốc có một số tác dụng phụ như viêm kết mạc mắt, khô niêm mạc,  đau đầu, rụng tóc, ngứa da đầu,…

Thuốc điều trị bệnh vảy nến

  • Methotrexate: Thuốc có tác dụng ức chế phân bào, trị vảy nến đỏ da, vảy nến mụn mủ toàn thân, thể khớp, thể mảng cứng đầu, dùng uống hoặc tiêm bắp dưới da. Thuốc có tác dụng chống viêm tốt, tiện lợi khi sử dụng, nếu dùng đúng liều lượng ít gây tác dụng phụ, rẻ tiền.
  • Cyclosporine: Thuốc đặc trị bệnh vảy nến viêm nặng, người bệnh cần phải giảm dần liều lượng sử dụng khi bệnh đã đạt hiệu quả, bởi thuốc gây tăng huyết áp và ảnh hưởng đến thận.
  • Infliximab, Etanercep, Adalimumab: Đây là những loại thuốc chữa vảy nến mới đang được sử dụng để trị bệnh nhưng vì giá thành cao và nhiều tác dụng phụ nên ít được áp dụng ở nước ta.

3 – Các liệu pháp khác

Sử dụng ánh sáng trị liệu (phototherary): Ánh sáng UVB có tác dụng ức chế tăng sinh tế bào biểu bì, cảm ứng tế bào lympho T, giảm số lượng của tế bào Langerhans, tác động lên tế bào keratin. Tuy nhiên, chiếu UVB có thể gây ban đỏ, bỏng rát, da lão hóa sớm.

Liệu pháp quang hóa điều trị bệnh vảy nến

Liệu pháp quang hóa((photochemotherapy): Bằng cách dùng PUVA để ức chế tổng hợp DNA, giảm sự hoạt động của tế bào lympho T, ức chế tế bào sừng, chống phân bào, nhanh chóng làm sạch tổn thương. Phương pháp này hiệu quả khi bệnh đang phát triển hoặc người bị tái phát bệnh. Liệu pháp có tác dụng phụ gây đỏ da, lão hóa da, đục thủy tinh thể, tăng nguy cơ ung thư da. 

Trên đây là những thông tin cụ thể về bệnh vảy nến, hy vọng sẽ giúp bạn đọc hiểu hơn về căn bệnh này. Hiện tại, các phương pháp điều trị bệnh bằng thuốc chỉ có tác dụng ức chế và kiểm soát bệnh chứ không thể chữa bệnh dứt điểm. Do đó, nếu nhận thấy bản thân có những dấu hiệu mắc bệnh vảy nến, bạn nên nhanh chóng thăm khám để bác sĩ da liễu kiểm tra và điều trị bệnh kịp thời. 

→ Có thể bạn quan tâm:

Chia sẻ

Bình luận

Your email address will not be published. Required fields are marked *